Thứ Hai, 24/08/2009, 10:44 GMT+7

Ngành Hàng hải: Phát triển thương hiệu biển Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nằm trên bờ Biển Đông, có đường bờ biển dài hơn 3.200km. Vùng đặc quyền kinh tế trên biển của Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần lãnh thổ trên đất liền, có trên 3.000 hòn đảo và quần đảo. Vùng biển, ven biển và hải đảo của nước ta đã gắn bó chặt chẽ với hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc Việt Nam.

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/02/2007). Để đạt được mục tiêu “đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển” cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ chiến lược quan trọng. Trong đó, nhiệm vụ chiến lược kinh tế “làm giàu từ biển” được chỉ đạo bởi quan điểm: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm an ninh quốc phòng, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường-Đây sẽ là một trong những nhân tố cơ bản giúp cho sự phát triển mạnh mẽ ngành Hàng hải.
Trong những năm qua, vận tải đường biển vẫn khẳng định ưu thế trong vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng hóa có khối lượng lớn. Khối lượng vận tải biển tiếp tục tăng trưởng bình quân gần 12%/năm, cao hơn so với những phương thức vận tải khác. Mặc dù thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của đội tàu Việt Nam tăng không đáng kể, nhưng khối lượng vận tải biển do đội tàu Việt Nam thực hiện tăng trưởng nhanh chóng trong những năm gần đây với tốc độ tăng bình quân gần 20%/năm, trong đó khối lượng vận tải chở thuê đạt khoảng 35% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Vận tải hành khách đường biển còn hạn chế, trong đó vận tải hành khách du lịch quốc tế chủ yếu do nước ngoài đảm nhận.
Vận tải đường biển Việt Nam đã kết nối với hầu hết các khu vực trên thế giới. Mặc dù các tuyến vận tải biển ở khu vực châu Á-Thái Bình dương vẫn đứng đầu về khối lượng vận tải nhưng đã có sự chuyển dịch đáng kể từ châu Á sang châu Âu và châu Mỹ trong những năm gần đây. Vận tải nội địa trên tuyến Bắc Nam vẫn chiếm tỷ trọng lớn với các mặt hàng chủ yếu là container, vật liệu xây dựng, xăng dầu, nông sản… Trừ một số tuyến ngắn, hầu hết khối lượng vận tải container của Việt Nam vẫn phải trung chuyển qua các cảng trung chuyển trong khu vực.
Đội tàu vận tải biển Việt Nam có những bước phát triển mạnh về tổng trọng tải với tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây và đã trở thành quốc gia đứng thứ tư trong các nước ASEAN. Tuổi trung bình của đội tàu đã được cải thiện rõ rệt (12,77 tuổi-tính đến 31/12/2008), vượt so mức mục tiêu quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1195/QĐ-TTg ngày 04/11/2003.
 Hệ thống cảng biển Việt Namđã được huy động các nguồn lực để tập trung đầu tư, nâng cấp kết hợp với xây dựng các bến cảng mới có quy mô lớn, khá hiện đại. Hệ thống cảng này thực sự đã đáp ứng được yêu cầu thông qua của hàng hóa vận tải bằng đường biển, phù hợp với quy hoạch được duyệt, khai thác đúng chức năng và các quy định về tải trọng khai thác, phát huy hiệu quả tốt.
Công nghiệp đóng tàu Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hệ thống các nhà máy đã được đầu tư theo quy hoạch trên các địa bàn toàn quốc, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng đội tàu biển quốc gia và có sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Theo Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ, thứ tự ưu tiên đến năm 2020 kinh tế hàng hải đứng thứ hai và sau năm 2020 kinh tế hàng hải đứng thứ nhất trong các ngành kinh tế biển. Do đó ngành Hàng hải có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển thương hiệu biển Việt Nam-Phát triển thương hiệu biển Việt Nam gắn chặt với phát triển ngành Hàng hải.
Nhằm đáp ứng mục tiêu chiến lược biển và phát triển thương hiệu biển Việt Nam, ngành Hàng hải cần phải định hướng phát triển toàn diện và có bước đột phá về kinh tế hàng hải gồm các lĩnh vực vận tải biển, cảng biển, công nghiệp tàu thủy, dịch vụ vận tải biển, trong đó trọng tâm phát triển vận tải biển và đội tàu. Từ đó làm cơ sở để lập kế hoạch phát triển đội tàu, xây dựng nâng cấp hệ thống cảng biển Việt Nam, nâng cao chất lượng vận tải và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đồng thời làm cơ sở cho các chuyên ngành vận tải khác như đường sông, đường bộ, đường sắt, hàng không phát triển phù hợp với giao thông đường bộ, đảm bảo mạng lưới giao thông của nước ta phát triển đồng bộ bền vững.
Việc định hướng phát triển phải được xây dựng trên cơ sở:
- Phát huy tối đa lợi thế về địa lý và điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tiềm năng biển để phát triển toàn diện và có bước đột phá về giao thông vận tải đường biển nhằm thực hiện được mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.
- Phát triển vận tải biển đi thẳng vào hiện đại, chất lượng ngày càng cao với chi phí hợp lý, an toàn, hạn chế ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng; tăng sức cạnh tranh của vận tải biển để chủ động hội nhập và mở rộng thị trường vận tải biển trong khu vực và trên thế giới; đồng thời đảm bảo an ninh quốc phòng.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển vận tải biển đồng bộ với phát triển các ngành vận tải liên quan: vận tải đường bộ, vận tải đường sông, vận tải đường sắt; ứng dụng phát triển công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics để tạo nên một hệ thống vận tải đồng bộ, liên hoàn và hiệu quả.
- Tập trung đầu tư cảng biển nước sâu, cảng trung chuyển và cảng cửa ngõ quốc tế ở các khu vực kinh tế trọng điểm. Trong đầu tư xây dựng cảng và luồng vào cảng phải đặc biệt quan tâm đến khả năng thích nghi với sự biến đổi khí hậu (nước biển dâng…), bảo vệ môi trường và các nguồn lợi thủy sản.
- Đến năm 2020 giao thông vận tải đường biển phải thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu vận tải đường biển của nền kinh tế quốc dân với mức tăng trưởng cao, đảm bảo chất lượng tốt, giá thành hợp lý và hạn chế ô nhiễm môi trường. Cụ thể đối với từng lĩnh vực:
Vận tải biển
Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải đường biển, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu vận tải nội địa (bao gồm cả vận tải hành khách), nâng cao thị phần vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu 25 ÷ 30%, kết hợp chở thuê hàng hóa nước ngoài trên các tuyến viễn dương.
Phát triển vận tải hành khách, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân tại các vùng ven biển, hải đảo và tương xứng với tiềm năng du lịch tại các vùng, miền của Việt Nam.
Hệ thống cảng biển
Đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống cảng biển và luồng vào cảng. Hệ thống cảng biển Việt Nam gồm 6 nhóm cảng, trong mỗi nhóm cảng có cảng cửa ngõ hoặc cảng trung tâm chính cho cả vùng, cảng vệ tinh, cảng chuyên dùng, cảng hành khách (phục vụ đi lại và du lịch), bến phao và hệ thống kết cấu hạ tầng dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (các trung tâm phân phối hàng hóa, ICD…) kết nối với mạng giao thông (đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa) đến các cảng biển và khu kinh tế, khu công nghiệp nhằm đảm bảo cho việc cấp, rút hàng cho cảng.
Công nghiệp tàu thủy
Đến năm 2020, Việt Nam có nền công nghiệp tàu thủy phát triển vào loại tiên tiến trong khu vực, đóng mới tàu hàng đến 300.000 DWT, các tàu khách, tàu dịch vụ dầu khí, đánh bắt xa bờ, tàu cứu hộ cứu nạn, bảo đảm hàng hải, công trình…, đáp ứng 65 ÷ 70% nhu cầu bổ sung đội tàu trong nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, củng cố an ninh quốc phòng và xuất khẩu tàu thủy ra nước ngoài với sản lượng trên 2 tỷ USD/năm; sửa chữa đồng bộ vỏ, máy, điện, điện tử… cho các tàu có trọng tải đến 400.000 DWT.
Phát triển cân đối hệ thống công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu. Nhanh chóng đổi mới và tiếp cận công nghệ hiện đại trong việc xây dựng mới các nhà máy đang đầu tư, kết hợp mở rộng đầu tư chiều sâu để phát huy hiệu quả cơ sở đóng tàu, sửa chữa tàu hiện có.
Chú trọng phát triển các nhà máy công nghiệp vệ tinh, nhưng không khép kín quá trình sản xuất tất cả các loại vật tư, thiết bị hàng hải trong phạm vi ngành Hàng hải mà phải phối hợp tận dụng năng lực của các ngành khác trong cả nước (bưu chính viễn thông, điện lực…) nhằm nâng cao tính chuyên môn hóa; phấn đấu đến 2020, tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm công nghiệp đóng tàu đạt 70%.
Dịch vụ hàng hải
Phát triển dịch vụ hỗ trợ vận tải biển một cách đồng bộ, đặc biệt là dịch vụ logistics với chất lượng cao, hướng đến dịch vụ trọn gói và mở rộng ra nước ngoài đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hình thành một số cảng nội địa, trung tâm phân phối hàng hóa, dịch vụ tiếp vận các loại hình dịch vụ hàng hải tiên tiến khác ở các khu vực đầu mối vận tải.
Phát triển đồng bộ cơ sở hậu cần, phương tiện tìm kiếm cứu nạn đa năng, hệ thống công nghệ thông tin hàng hải, nhận dạng tự động AIS, hiện đại hóa hệ thống thông tin duyên hải, VTS… đáp ứng yêu cầu của các công ước quốc tế.
Trên đây là sơ lược tổng quan định hướng phát triển ngành Hàng hải Việt Nam nhằm đáp ứng mục tiêu chiến lược biển và phát triển thương hiệu biển Việt Nam. Hy vọng trong tương lai không xa, thương hiệu biển Việt Nam sẽ nổi tiếng khắp năm châu bốn biển cùng với sự phát triển của ngành Hàng hải Việt Nam.
 (Theo Tạp chí HHVN)
 
 
Counter