Thứ Sáu, 05/12/2008, 09:52 GMT+7

Phát triển bền vững nguồn nhân lực hàng hải

Những năm gần đây, sự phát triển nóng của ngành Vận tải biển và Đóng tàu đã dẫn đến việc thiếu hụt trầm trọng cả về số lượng và chất lượng đội ngũ sỹ quan, thuyền viên Việt Nam và thế giới.

Theo số liệu của Hội thảo “Phát triển bền vững nguồn nhân lực hàng hải” được tổ chức tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam vào cuối tháng 4/2008, chỉ tính từ năm 2001 đến tháng 8/2007, số lượng tàu biển Việt Nam tăng đột biến: Từ trên 600 tàu với tổng trọng tải gần 1,8 triệu DWT lên khoảng 1.200 tàu với tổng trọng tải hơn 4 triệu DWT… Ngoài ra, còn trên 300 tàu biển đang được đóng mới tại các nhà máy đóng tàu và sẽ được bàn giao trong năm 2008, kéo theo nhu cầu cần có thêm hơn 6 ngàn thuyền viên cung cấp cho số tàu đóng mới này, đó là chưa kể đến đội tàu Việt Nam mang cờ thuận tiện khoảng hơn 100 chiếc với trên 2 ngàn thuyền viên đang phục vụ. Trong khi đó, cả nước mới chỉ có hai trường đại học, hai trường cao đẳng và một trường dạy nghề hàng hải…, hàng năm cho “ra lò” khoảng 1.200-1.300 người và cũng chỉ khoảng hơn một nửa lực lượng đó khi ra trường làm đúng nghề được đào tạo.

Vấn đề thiếu hụt thuyền viên đã được cảnh báo từ những năm 1997-1998, và mặc dù đã có một số động thái tích cực từ các cơ sở đào tạo hàng hải, các cơ quan quản lý và sử dụng thuyền viên, nhưng số lượng thuyền viên chất lượng cao vẫn thiếu trầm trọng. Vấn đề này đã được đưa ra bàn thảo tại nhiều hội nghị liên quan đến nguồn nhân lực của ngành Hàng hải nhằm tìm ra lời giải cho bài toán: Cần phải làm gì để sớm có đủ nguồn vốn con người chất lượng cao dành cho phát triển ngành Hàng hải nói chung, đội tàu biển quốc gia nói riêng và tham gia thị trường cho thuê thuyền viên quốc tế?

Hầu hết các ý kiến đều nêu ra một thực trạng khá phổ biến gần đây và đang là nỗi bức xúc đối với các đơn vị quản lý và sử dụng thuyền viên, đó là hiện tượng dịch chuyển vô nguyên tắc của thuyền viên giữa các công ty vận tải biển. Tình trạng “cung không đủ cầu” đã nảy sinh hiện tượng tranh giành thuyền viên, kể cả bằng những biện pháp không lành mạnh. Các doanh nghiệp mới thành lập hoặc doanh nghiệp tư nhân luôn tìm mọi cách để lôi kéo thuyền viên, bất chấp việc nhiều thuyền viên không đáp ứng được yêu cầu công việc, nảy sinh nguy cơ tiềm ẩn về an toàn của tàu cũng như công ty sử dụng họ. Một số thuyền viên có những đòi hỏi, yêu sách với các chủ tàu không tương xứng với năng lực của bản thân. Mặt khác,nền kinh tế phát triển, mức sống ngày càng được nâng cao khiến nghề đi biển không còn mấy hấp dẫn như những thập niên trước, ngày càng có nhiều thuyền viên có kinh nghiệm, tay nghề cao, thậm chí cả sỹ quan quản lý… cũng rời bỏ nghề, lên bờ làm việc - Từ đó nảy sinh nhiều bất cập trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực hàng hải Việt Nam.

Liệu đã khai thác hết tiềm năng nguồn nhân lực hàng hải?

Ngoài nguyên nhân khách quan nói trên, còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng thiếu hụt sỹ quan thuyền viên chất lượng cao, như kinh phí đầu tư cho đào tạo huấn luyện còn hạn chế, cơ sở vật chất vừa thiếu vừa yếu, hệ thống chính sách đào tạo và tuyển dụng chưa thống nhất, đồng bộ, cơ chế chính sách đối với thuyền viên còn chậm ban hành và đổi mới, chưa có chính sách khuyến khích thuyền viên thỏa đáng. Đặc biệt, đi biển là nghề của kinh nghiệm và thực hành, thì thời lượng thực hành của sinh viên, học viên quá ít so với yêu cầu, thời gian đào tạo kéo dài, nặng về lý thuyết… đã dẫn đến tình trạng cung không đáp ứng cầu, chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng quá nhanh về số lượng chủ tàu và số lượng tàu, quy mô hoạt động và nhu cầu xuất khẩu, cung ứng thuyền viên.

Theo thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Minh-Trưởng ban Thuyền viên Hiệp hội Chủ tàu Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì mua một tàu mới khá dễ thế nhưng để chọn được một thuyền bộ có chất lượng thì quả là khó, thậm chí đã có không ít chủ tàu Việt Nam phải thuê thuyền viên nước ngoài với giá rất cao mà chất lượng không hơn gì thuyền viên Việt Nam. Nghịch lý này khiến các cơ sở đào tạo, các cơ quan quản lý và sử dụng thuyền viên phải nghiêm túc nhìn nhận lại và sớm có những hành động cụ thể, nhất là nước ta lại có nguồn nhân lực dồi dào và còn rất nhiều người trẻ thiếu việc làm.

Theo tính toán, để đào tạo được một thuyền trưởng hoặc máy trưởng hạng nhất đạt tiêu chuẩn quốc tế thì cần ít nhất 10 năm sau khi tốt nghiệp đại học, với điều kiện họ phải đi biển liên tục. Hơn nữa, như trên đã nói, không phải tất cả số sinh viên tốt nghiệp hàng hải đều làm việc trên tàu, bởi lẽ nhu cầu về nhân lực trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp hàng hải… tăng liên tục, sinh viên hàng hải mới ra trường có nhiều cơ hội chọn được việc ở trên bờ, vừa đỡ vất vả, vừa không phải xa nhà…

Một nghịch lý là trong khi thị trường thuyền viên trong nước và quốc tế đang thiếu hụt trầm trọng thì có rất nhiều lao độngở vùng sâu vùng xa, những vùng ven biển, miền Trung… lại không có công ăn việc làm do họ không đủ điều kiện theo học đại học, cao đẳng. Rất nhiều chiến sỹ hải quân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, đã quen sống và làm việc trên biển, có ý thức tổ chức kỷ luật, có nguyện vọng được đi tàu viễn dương và sẵn sàng gắn bó lâu dài với nghề, nhưng lại khó có cơ hội bước chân vào giảng đường đại học.

Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO)đã nghiên cứu và đưa ra những tiêu chuẩn đào tạo, cấp chứng chỉ và trực ca (STCW 78/95) để toàn thế giới thực hiện. Những tiêu chuẩn này rất cụ thể, rõ ràng, nếu áp dụng tốt chúng ta có thể đào tạo được đội ngũ sỹ quan hàng hải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Cũng theo ông Minh, trên thế giới hiện chỉ có Việt Nam là bắt buộc sỹ quan quản lý (cấp không hạn chế) phải có bằng đại học hoặc cao đẳng, vậy là chúng ta đã tự làm khó mình khi đưa ra những tiêu chuẩn mà thế giới không bắt buộc, IMO không yêu cầu, chủ tàu không đòi hỏi.

Nghề đi biển tuy vất vả, mang tính rủi ro cao, song bù lại người lao động có được khoản thu nhập khá lớn. Việt Nam có một lực lượng lao động trẻ tiềm tàng, nếu khai thác được lực lượng lao động này, đồng thời tổ chức tốt khâu đào tạo, tuyển dụng và quản lý thì không những chúng ta có đủ số lượng sỹ quan thuyền viên cho đội tàu biển quốc gia mà còn có thể cung ứng cho đội tàu quốc tế, mang về cho đất nước một nguồn ngoại tệ đáng kể.

Làm gì để phát triển bền vững nguồn nhân lực hàng hải?

Câu hỏi trên làm trăn trở không ít những người làm công tác quản lý và sử dụng lao động trong ngành Hàng hải, nhưng tựu trung lại là:

Nhà nước cần đầu tư mạnh mẽ cho việc đào tạo nguồn nhân lực hàng hải. Đây được xem như một mũi nhọn để chiếm lĩnh thị trường thuyền viên quốc tế, mang lại nguồn thu cho đất nước.

Thành lập Trung tâm dự báo về phát triển vận tải biển và nguồn nhân lực, từ đó đưa ra quy hoạch phát triển trung và dài hạn về SQTV, song song với quy hoạch phát triển đội tàu…

Xây dựng mô hình quản lý thuyền viên thống nhất trong cả nước, tiến tới xem xét thành lập một cơ quan quản lý chung SQTV.

Xây dựng mạng lưới đào tạo huấn luyện, đổi mới mô hình đào tạo. Ngoài các cơ sở đào tạo hiện có, có thể mở thêm một số trung tâm huấn luyện tại các tỉnh duyên hải để thu hút lượng lớn đối tượng trên địa bàn.

Trong khi ngân sách Nhà nước giành cho đào tạo có hạn thì việc xã hội hóa giáo dục là một mô hình phù hợp nhằm huy động mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng và số lượng SQTV.Với mô hình này, các doanh nghiệp, đối tác sẽ tham gia trực tiếp và sâu hơn vào quá trình, nội dung đào tạo huấn luyện SQTV.

Kết hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, gia đình và xã hội trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Hàng hải. Có cơ chế thích hợp và chính sách thỏa đáng khuyến khích thuyền viên gắn bó với nghề, tăng cường vai trò của hiệp hội, Công đoàn Hàng hải với thuyền viên và gia đình thuyền viên.

Tăng chỉ tiêu tuyển sinh, giảm điểm chuẩn đối với ngành nghề đi biển, nới rộng những tiêu chuẩn tuyển dụng nếu có thể; có chính sách ưu tiên, hỗ trợ sinh viên nông thôn, vùng sâu vùng xa học nghề hàng hải.

Hy vọng rằng, Chính phủ, các cơ quan quản lý Nhà nước, nhà trường và các doanh nghiệp sẽ sớm có những hành động cụ thể, phối kết hợp chặt chẽ, tìm ra một lộ trình mới cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực hàng hải với những bước đi phù hợp để đội ngũ sỹ quan, thuyền viên Việt Nam phát triển bền vững cả chất và lượng, góp phần hoàn thành mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có nền kinh tế biển phát triển bền vững.

(Theo Tạp chí HHVN)

Counter